Quảng Nam: Miền đất khai sinh và truyền bá chữ Quốc ngữ

Thứ bảy - 30/09/2017 23:26
Quảng Nam, hay gọi âm địa phương là "Quảng Nôm", là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam. Tên gọi Quảng Nam có nghĩa là mở rộng về phương Nam. Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống văn hóa với hai di sản văn hóa thế giới là phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Quảng Nam còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra nhiều người con ưu tú cho đất nước.

TÀI LIỆU SỬ VIỆT : https://sites.google.com/site/sachsuvietnam/home
Quảng Nam: Miền đất khai sinh và truyền bá chữ Quốc ngữ
I. QUẢNG NAM - NƠI KHAI SINH CHỮ QUỐC NGỮ:
 
Với diện tích 10,438 km² và dân số trung bình hơn 1.480 triệu người (2015), Quảng Nam đứng thứ 6 về diện tích, thứ 19 về dân số trong số 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Mật độ dân số là 142 người/km² (đứng thứ 45/63) so với 277 người/km² của cả nước. Năm 2008, Quảng Nam là tỉnh đầu tiên của duyên hải Nam Trung Bộ có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Tam Kỳ, Hội An).
https://vi.wikipedia.org/wiki/Quảng_Nam

1. Hoàn cảnh và nguyên nhân sáng chế chữ Quốc ngữ:

Dưới thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên, cảng thị Hội An càng ngày càng phát triển, trở thành trung tâm buôn bán sầm uất bậc nhất của xứ Đàng Trong. Thuyền buôn các nước tấp nập cập bến, nhiều nhất là Trung Hoa, Nhật Bản, Hoà Lan và Bồ Đồ Nha. Nói về Hội An thời ấy Cristoforo Borri đã ghi nhận: "Thành phố này gọi là Faifo, một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có hai thành phố, một phố người Tàu và một phố người Nhật. Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng. Người Tàu có luật lệ và phong tục của người Tàu và người Nhật cũng vậy". (1, tr 92)

Mặc dầu các thuyền buôn Bồ Đào Nha đến buôn bán với Hội An rất sớm, nhưng các giáo sĩ vẫn chưa có cơ hội đến truyền đạo ở xứ Đàng Trong. Cho đến năm 1613, Nhật Bản ban hành lệnh cấm đạo, trục xuất các giáo sĩ ,thì những người được đào tạo để gởi đi Nhật Bản phải chuyển hướng sang Việt Nam. Ngày 6/1/1615, phái đoàn Buzomi đáp tàu buôn Bồ Đào Nha từ Macao đến Cửa Hàn (Đà Nẵng). Sau đó, mấy tháng mới đến ở Hội An (2,tr 20). Họ chọn Hội An để truyền giáo vì nơi đây đã có sẵn những con chiên người Nhật cần đến họ và sẵn sàng giúp đỡ họ làm thông ngôn để giao tiếp với người Việt. Khi giảng đạo nếu dùng ngôn ngữ bản xứ trực tiếp đối thoại thì lời thuyết giáo sẽ sinh động, có hồn, dễ đi sâu vào lòng người; còn nếu phải dùng người phiên dịch thì hiệu quả không cao. Vì vậy, các giáo sĩ phải gấp rút học tiếng Việt. Họ dùng bộ chữ cái La Tinh để ghi âm tiếng bản xứ giúp cho người mới học dễ nhớ, dễ sử dụng hơn, từ đó chữ Quốc ngữ được ra đời. 

Chỉ cần nhìn vào cách ghi âm địa danh Dinh Chiêm là ta có thể hình dung được tiến trình tạo lập chữ Quốc ngữ. Đây là địa danh được phiên âm sớm nhất ở dạng chữ Quốc ngữ sơ khai. Lúc đầu chưa ý thức được tiếng Việt là tiếng đơn âm nên họ không viết theo lối cách ngữ mà lại viết dính nhau, họ cũng chưa phân biệt được các dấu giọng nên viết không có dấu: João Roiz viết là Cacham vào năm 1621, cũng năm này, tuy Gaspar Luis chưa đến Việt Nam nhưng cũng viết là Cacham và sau khi đến xứ Đàng Trong năm 1626 lại viết Dinh Cham. Trong bản tường trình ngày 1/1/1626 giáo sĩ Antonio De Fontes cũng ghi là Dinh Cham nhưng cũng có khi viết là Dĩgcham. Riêng Cristoforo Borri thì ghi theo lối Ý nên viết là Cacciam (1621). Những trở ngại này nhanh chóng được khắc phục, chỉ mười năm sau đó, năm 1632 Gaspar D’Amaral đã có thể viết ngay "Kẻ Chàm" như cách ta viết ngày nay. Mỗi giáo sĩ có một cách ghi, chứng tỏ chữ Quốc ngữ được tạo thành do công sức của cả một tập thể chứ chẳng riêng ai. Tuy thế, người đóng góp sớm nhất và quan trọng nhất là Francisco De Pina.

2. Pina - người mở đường cho công trình La Tinh hoá tiếng Việt

Pina, người Bồ Đào Nha, sinh tại thành phố Guarda năm 1585 (hay 1586 theo Roland Jacques hoặc 1588 theo Hồng Nhuệ). Ông vào Dòng Tên từ năm 19 tuổi, học Thần học, tiếng Nhật và các môn  khoa học, nghệ thuật nhiều năm tại Macao trước khi sang Việt Nam năm 1617. Ngay từ khi đến Quảng Nam, Pina đã tự nguyện lao vào việc học tập, nghiên cứu tiếng Việt. Trong thư gửi cho Tổng giám mục, giáo sĩ Gaspar Luis đã viết: "Linh mục De Pina đến Đàng Trong năm 1617. Đó là giáo sĩ đầu tiên miệt mài học tiếng nói" (3, tr40). Chỉ trong một thời gian ngắn, Pina đã nắm bắt được cốt lõi của tiếng Việt. Ông đã nhanh chóng phát hiện ra "Tiếng nói này là một tiếng nói có thanh âm, giống như một xướng âm pháp và trước hết là phải biết xướng âm nó đã, sau đó người ta mới học các chữ". (4, tr 36)

Không nắm được cốt lõi này thì không thể học được tiếng Việt. Chính vì không phân biệt được các thanh và dấu thanh nên Linh mục Manoel  Fernandez - Cha bề trên của trú sở Hội An - dầu rất cố gắng học nói tiếng Việt, mỗi ngày hai lần được người Việt Nam luyện cách phát âm ròng rã một năm mà cha cứ nhầm lẫn giữa cà và cá chẳng nói được mấy từ chẳng phải, ông phải khiến bổn đạo Hội An, Thanh Chiêm không hiểu ông nói gì.

Pina không những nói thông thạo tiếng Việt, giảng đạo bằng tiếng Việt mà ông còn soạn một tập chính tả và dấu thanh tiếng Việt đồng thời bắt tay vào việc soạn ngữ pháp. Ông đã thu thập được nhiều truyện và các văn bản thích hợp cho việc trích dẫn những câu mẫu về ngữ pháp. Những điều đó đã chứng tỏ Pina mới là người tiên phong sáng tạo chữ quốc ngữ chứ không phải là Alexandre De Rhodes như người ta vẫn tưởng lâu nay. Mặc dầu Rhodes là người đầu tiên cho in những tài liệu thành văn về chữ quốc ngữ: Từ điển Việt-Bồ-La, Phép giảng tám ngày vào năm 1651 nhưng ông chỉ là người công bố, người phổ biến, người đóng góp rất nhiều cho việc hoàn chỉnh chữ Quốc ngữ chứ không phải là người khởi xướng đúng như ông đã xác nhận trong Từ điển Việt-Bồ-La: "...ngay từ đầu tôi đã học với cha Francisco De Pina, người Bồ Đào, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn..." (5, tr 3). Chính nhờ những nỗ lực không hề biết mệt mỏi của A.De Rhodes mà ngày nay chúng ta vẫn còn được chiêm ngưỡng những tài liệu vô giá về chữ Quốc ngữ trong buổi bình minh của nó.

Điều thuận lợi cho A.De Rhodes khi học tiếng Việt là ông khỏi phải trải qua những dò dẫm ban đầu mà được thừa hưởng tất cả những gì  Pina đã khổ công tích góp được về cách ghi âm tiếng Việt theo mẫu tự La tinh. Rhodes là người hết sức trung thực và sòng phẳng khi công khai thừa nhận vai trò và vị trí của mình trong việc chế tác chữ Quốc ngữ. Cũng trong Từ điển Việt-Bồ-La ông nói rất rõ: "Tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng một Hội Dòng nhất là của cha Gaspar d’ Amaral và cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển, ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào, nhưng cả hai ông đều đã chết sớm" (5,tr 3). Theo lời Rhodes, ta có thể giả định một bảng xếp loại các bậc tổ sư có công sáng chế chữ Quốc ngữ: Pina thuộc thế hệ thứ nhất, A.De Rhodes thuộc thế hệ thứ hai. Nhưng khi công bố các công trình của mình Rhodes lại thuộc thế hệ thứ năm, vì ông đã tận dụng những thành tựu của người đi trước ông như Pina lẫn người đi sau ông như Gaspar d’Amaral,Antonio Barbosa:

1)  Thế hệ thứ nhất : Francisco De Pina - đến VN năm 1617
2)  Thế hệ thứ hai   : Alexandre De Rhodes - đến VN năm 1624
3)  Thế hệ thứ ba    : Gaspar D’Amaral - đến VN năm 1629
4)  Thế hệ thứ tư    : Antonio Barbosa - đến VN năm1636
5)  Thế hệ thứ năm : Alexandre De Rhodes - xuất bản sách năm 1651
          
Những đóng góp lớn lao của Alexandre De Rhodes vào cuộc cách mạng chữ viết làm vinh danh cho người thầy đã từng dày công đặt nền móng cho việc sáng tạo chữ Quốc ngữ: Francisco De Pina.


3. Dinh trấn Thanh Chiêm - cái nôi của chữ Quốc ngữ

Nhờ sớm thông thạo tiếng Việt, Pina thường xuyên đi lại Thanh Chiêm để làm nhiệm vụ quan hệ với Dinh trấn, đến khi trú sở Thanh Chiêm thành lập năm 1625 ông được  cử làm cha bề trên cai quản nơi đó. Trú sở này tuy theo giáo luật ra đời sau nhưng lại giữ một vai trò khá quan trọng vì ở ngay thủ phủ của Dinh Quảng Nam được xem như triều đình thứ hai của xứ Đàng Trong, do Hoàng tử Nguyễn Phước Kỳ, con cả của chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên trấn giữ. Đây không chỉ là nơi đơn thuần chinh phục con chiên mà còn là nơi tranh thủ ngoại giao để tạo mọi điều kiện dễ dàng cho việc truyền giáo nên chỉ có Pina là thích hợp nhất để cai quản nơi này. Cũng không phải sau khi trú sở được thành lập Pina mới đến Dinh Chiêm mà trước đó ông gần như có mặt thường xuyên tại đây.

Ở Dinh trấn Thanh Chiêm, Pina đã tạo lập được mối quan hệ mật thiết với Hoàng tử Kỳ .Mặc dầu không thuyết phục được Hoàng tử chịu lễ thánh tẩy nhưng cũng tạo được niềm tin nơi vị trấn thủ. Hoàng tử rất có thịnh tình với Kitô giáo. Pina thường đến thăm quan Trấn thủ, cũng có khi quan Trấn thủ đến thăm Pina cùng với một số Nho sĩ để nghe Pina giảng về giáo lý. Ở đây, Pina cũng làm được nhiều việc ích lợi cho công cuộc truyền giáo vì đã chinh phục được một số người quyền quí có thế giá ở trong Dinh. Tại nhà một bà tên là Gioanna, Pina đã dạy giáo lý bằng tiếng bản xứ khiến người nghe có thể cảm nhận đích thực suối nguồn của đạo. Gaspar Luis còn cho biết thêm, Pina được triều đình kính trọng nhờ những hiểu biết về toán học và thiên văn của ông. Ông đã nhận huấn luyện cho những nhà Chiêm tinh của Hoàng tử Kỳ thuật tính thiên văn. Nhưng công trình hệ trọng hơn hết mà Pina đã làm được ở Dinh trấn Thanh Chiêm là công cuộc sáng tạo chữ Quốc ngữ theo mẫu tự La tinh. Để làm được việc khó khăn này, ngoài những cố gắng vượt bậc của ông còn cần có sự hỗ trợ của những người Việt. Trước hết là các thanh niên giáo dân ở các nhà đạo, nhà thờ, trong số đó Pina đã nhắc đến một người tên André trong bức thư viết dở dang tại Hội An vào năm 1623. "Trong một nhà đạo cần ít nhất có ba người giúp chúng ta các dịch vụ vặt vãnh hàng ngày, đối với họ cần dành thời gian để học chữ,cả người của họ lẫn người của chúng ta... Những năm đầu tôi đã dạy cho một người tên là André, sau đó cậu ta ở lại với cha Marquez như người phiên dịch của cha và về sau cha bề trên đã dùng cậu ta với chức năng như vậy" (4, tr 178). André và những thanh niên giáo dân làm phiên dịch, biết tiếng Bồ Đào Nha nên có thể giúp đỡ ông rất nhiều khi nghiên cứu tiếng Việt. Alexandre De Rhodes khi đến Thanh Chiêm để học tiếng Việt, ngoài việc lãnh giáo ở Pina, cũng ghi lại những nỗ lực đóng góp của người bản xứ đã giúp ông nhanh chóng gặt hái kết quả trong học tập: "Người giúp tôi đắc lực là một cậu bé người xứ này. Trong ba tuần lễ đã dạy tôi các dấu khác nhau và cách đọc hết các tiếng. Cậu không hiểu tiếng tôi mà tôi thì chưa biết tiếng cậu, thế nhưng cậu có trí thông minh biết được những điều tôi muốn nói. Và thực tế cũng trong ba tuần lễ, cậu học các chữ của chúng ta, học viết và học giúp lễ nữa. Tôi sửng sốt thấy trí thông minh của cậu bé và trí nhớ chắc chắn của cậu. Từ đó cậu đã làm thầy giảng giúp các cha" (5.tr 55,56). Nhưng quan trọng hơn vẫn là các trí thức bản xứ. Đó là các Nho sĩ, các nhà sư, các quan lại v.v..., những tinh hoa của xứ Đàng Trong từ Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá đến Bình Định, Phú Yên, khắp nơi đã hội tụ về đây. Họ là những cộng tác viên đắc lực của Pina trong công trình ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh. Làm được việc khó khăn này Pina xác nhận không đâu lí tưởng hơn Dinh Chiêm, cơ quan đầu não của xứ Quảng Nam, vì chỉ có nơi này mới qui tụ nhiều người học thức cần thiết cho công trình nghiên cứu tiếng bản xứ của ông. Hội An và Nước Mặn (Qui Nhơn) không thể đáp ứng yêu cầu này. Mặc dầu Hội An là nơi đô hội sầm uất nhưng chỉ có lợi cho công việc thương mãi hơn là cho việc nghiên cứu ngôn ngữ. Người ta không thể tìm thấy lời giải đáp cho vấn đề ở những thương nhân người Tàu, người Nhật mà chỉ có ở những văn nhân nơi thủ phủ.

Cuối năm 1624, Alexandre De Rhodes được cử đến Đàng Trong. Vừa đến nơi ông đã cùng giáo sĩ Antonio De Fontes về ngay Thanh Chiêm làm phụ giảng cho Pina, nhưng việc khẩn thiết hơn hết là để học tiếng Việt với bậc thầy "giảng giáo lý không cần thông dịch".

Trú sở Thanh Chiêm như thế có thể xem là trường dạy chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Francisco De Pina từ chỗ đem nhiệt tâm phụng sự chúa Kitô đã trở thành cha đẻ chữ Quốc ngữ. Chữ mà ông chỉ khiêm tốn xem như một công cụ, một phương tiện mầu nhiệm để chinh phục người bản xứ, đưa họ trở lại đạo, nhưng ông đã đem hết nhiệt huyết và tuổi thanh xuân để miệt mài nghiên cứu, lại trở thành văn tự chính thức của một quốc gia, trở thành một công cụ tuyệt hảo cho Việt Nam trên đường phát triển và hội nhập vào cộng đồng quốc tế.

Pina, Alexandre De Rhodes đã học tập, nghiên cứu, làm việc nhiều năm ở Dinh trấn Thanh Chiêm để tạo nên chữ Quốc ngữ. Do đó Dinh trấn Thanh Chiêm nói riêng và Quảng Nam nói chung chính là miền đất đã có vinh hạnh làm nơi chào đời của chữ Quốc ngữ.

II. QUẢNG NAM - NƠI TRUYỀN BÁ CHỮ QUỐC NGỮ

1. Mục đích phổ biến chữ quốc ngữ

Cuối thế kỷ XIX các phong trào vũ trang Cần vương hoàn toàn thất bại, thực dân Pháp đã thiết lập nền đô hộ trên toàn cõi Việt Nam, Nho học bước vào con đường suy tàn, không còn đáp ứng được những yêu cầu của đất nước. Trước tình đó, đầu thế kỷ XX phong trào Duy Tân do các cụ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo với một đường lối chủ trương mới mẽ, tiến bộ, khởi lên từ Quảng Nam đã làm nô nức lòng người, khắp nơi một phong khí mới ào ào dâng lên. Mục tiêu "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" trở thành động lực thúc đẩy nhân dân tập hợp dưới bóng cờ của phong trào, trong đó mục tiêu khai dân trí được đặt lên hàng đầu. Muốn tiến bộ, muốn chống lại kẻ thù phải làm cho dân khôn ra, phải cắt cái ngu, cái dại đã đưa dân tộc vào vòng bị trị. Công cụ để tiến hành sứ mệnh đó không gì tiện dụng hơn chữ Quốc ngữ.

Mặc dầu lúc bấy giờ chữ Quốc ngữ còn có nhiều nhược điểm, nhưng so với chữ nôm thì lại đơn giản, có tính khoa học hơn nhiều, do đó thuận lợi cho việc truyền bá chủ nghĩa Duy tân và nâng cao dân trí, vì vậy các nhà lãnh đạo phong trào bèn ra sức hô hào học chữ Quốc ngữ:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước,
Phải đem ra tính trước dân ta,


(Khuyến học - Trần Quí Cáp)

Ta muốn vận dụng chữ Quốc ngữ như một khí cụ cứu nước, thực dân Pháp lại muốn dùng chữ Quốc ngữ như một công cụ để thống trị đất nước ta ,nô dịch dân ta.

2. Pháp truyền bá chữ Quốc Ngữ để  làm công cụ nô dịch:

Ngay sau khi chiếm Nam kỳ (1867), Pháp bãi bỏ các kì thi chữ Hán và thay vào đó một nền giáo dục Pháp Việt. Họ đã thấy ngay vai trò lợi hại của chữ Quốc ngữ nên quyết tâm đào tạo những người biết chữ Pháp, chữ Quốc ngữ để làm tay sai cho họ trong việc cai trị. Nhiều nghị định liên tiếp được ban hành nhằm mục đích phổ biến chữ Quốc ngữ, dùng nó thay thế chữ Hán và chữ Nôm:

Ngày 14/11/1874 ,Thiếu tướng Hải quân Krantz giữ chức Thống soái Nam kỳ, đã ký nghị định mở trường trung học Chasse Loup Laubat ở Sài Gòn vừa dạy tiếng Pháp vừa dạy chữ Quốc ngữ cho con em người Pháp đang cai trị tại Nam kỳ và con em các quan lại làm việc với họ.

Ngày 6/4/1878, Thống đốc Nam kỳ ra nghị định số 82 bắt buộc các công văn, thư từ phải viết bằng chữ Quốc ngữ thay vì chữ Hán hay chữ Nôm.

Ngày17/1/1879, Thống đốc Nam kỳ là bá tước Lafont  ký nghị định mở trường Trung học Mỹ Tho.

Ngày 17/3/1879, chính quyền thuộc địa Pháp thiết lập Sở Học chánh Nam kỳ và đặt  chương trình giáo dục Pháp Việt đầu tiên  ở Nam kỳ.

Ngày 18/11/1896, Toàn quyền Đông Dương A. Rousseau kí nghị định cho phép mở trường Quốc Học Huế.

Ngày 27/4/1904, thực dân Pháp ra nghị định thiết lập chương trình giáo dục hệ Pháp-Việt ở Bắc kỳ.

Năm 1906, Toàn quyền Paul Beau ra nghị định bắt dân các xã lập trường tiểu học dạy chữ Quốc ngữ, chữ Tây...

Những nỗ lực phổ biến chữ Quốc ngữ của thực dân Pháp nhằm mục đích loại bỏ nền văn hoá Hán Nôm từ hàng ngàn năm đã ăn sâu vào cội rễ tư tưởng người Việt để thay vào đó là nền văn hoá Pháp, hầu củng cố chế độ thực dân, tất yếu phải gặp sức kháng cự của nhân dân yêu nước. Vì vậy, dù Pháp ra lệnh lập xã học, dân chúng vẫn không chịu học chữ Quốc ngữ do họ đề xướng.

3. Phong trào Duy Tân truyền bá Chữ Quốc ngữ để làm công cụ cứu nước

Đối với các nhà cách mạng, chữ Quốc ngữ là công cụ hữu hiệu để truyền bá chủ nghĩa Duy Tân: "Quyết đem học mới thay nô kiếp", là phương tiện để khai dân trí:

Trước hết phải học ngay Quốc ngữ,
Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau,
Chữ ta, ta đã thuộc làu, 
Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài


(Sẵn cơ sở để khai tâm trí - Đông kinh nghĩa thục)

Cùng một phương tiện nhưng dùng với hai mục đích trái ngược nhau, phải nói sao cho dân hiểu, dân làm, tránh hiểu sai, hiểu lầm, không để cho kẻ địch lợi dụng, quả là một trận chiến cam go. Việc dạy chữ Quốc ngữ trong các trường Duy Tân buổi đầu không dễ dàng vì gặp phải sự chống đối của lớp người bảo thủ. Nhiều người đã kiên quyết không cho con em đi học thứ chữ "của Tây,của cố đạo" nhưng nhờ lòng kiên trì, nhiệt tình yêu nước, các giáo viên tân học đã tạo được sự hiểu biết cũng như lòng tin vào tiền đồ của dân tộc, càng ngày số người theo học càng đông. Phong trào học chữ Quốc ngữ đã được nhân dân hưởng ứng nồng nhiệt, tại Quảng Nam chỉ trong vòng năm, sáu tháng 40 trường tân học đã được dựng lên để dạy chữ Quốc ngữ, truyền bá cái học mới. Từ chỗ bài Tây, tả đạo, cái gì của thực dân cũng ghét, như tinh thần cụ Đồ Chiểu, xà phòng không dùng, dầu Tây không thắp, huống gì chữ Quốc ngữ là đại sự của quốc gia lại do kẻ xâm lược tạo ra. Làm cho dân ý thức đó là nguồn lợi của nước nhà, đưa chữ Quốc ngữ giữ vai trò có quan hệ sinh tử đối với vận mệnh đất nước, khiến cho họ nhận ra cái hồn của dân tộc "chữ Quốc ngữ là hồn trong nước" quả là kỳ công của các nhà lãnh đạo phong trào Duy Tân. Không chỉ dạy chữ Quốc ngữ cho dân ta, phong trào còn dùng chữ Quốc ngữ để dịch các sách Âu, Mỹ,Trung Quốc hầu phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật, triết học, kinh tế... để mở mang dân trí, ý thức dân quyền, đưa đồng bào tiến bước trên đường Duy Tân, cứu đất nước thoát khỏi vòng đô hộ của thực dân Pháp:

Sách Âu Mỹ, sách China
Chữ kia, chữ nọ dịch ra tinh tường
...Một người học muôn người đều biết
Trí ta khôn trăm việc phải hay
Lợi quyền đã nắm trong tay
Có cơ tiến hoá, có ngày văn minh


(Khuyến học - Trần Quí Cáp)

Công cuộc phổ biến chữ Quốc ngữ của phong trào Duy Tân đã được triển khai bằng nhiều hoạt động mạnh mẽ nhất là từ năm 1906 trở đi. Năm 1906, nhân nghị định của Toàn quyền Paul Beau bắt dân các xã lập trường dạy chữ Quốc ngữ, chữ Tây các nhà Duy Tân đã lợi dụng thời cơ đó để hợp pháp hoá chủ trương dạy chữ Quốc ngữ mà trước đây họ phải hoạt động một cách bí mật .Các cụ Phan Châu Trinh, Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, công khai tổ chức những buổi diễn thuyết cổ động cho tân học gây được những xúc động mạnh mẽ trong hàng ngũ thân hào, nhân sĩ, khiến họ tự nguyện góp công, góp của dựng lên những ngôi trường Duy Tân trong các xóm làng. 40 trường tân học đã mọc lên khắp nơi, có nhiều trường đã gây được ảnh hưởng lớn, uy tín vang khắp tỉnh như trường Phú Lâm, Diên Phong, Phước Bình, Cẩm Toại.

Phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ bắt đầu từ Quảng Nam sau lan rộng ra cả Trung kỳ, Bắc kỳ. Năm 1907, cụ Phan Châu Trinh ra Hà Nội cùng các thân hào nhân sĩ đất Bắc như các cụ Lương văn Can, Nguyễn Quyền... thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục. Đây là một trường có quy mô tổ chức lớn, có nhiều giáo sư xuất sắc, vang danh khắp nước.

Công cuộc Duy Tân đang được triển khai mạnh mẽ, quần chúng nhiệt tình hưởng ứng, nhưng tiếc rằng phong trào hoạt động chẳng được mấy năm thì đến năm 1908 nhân cuộc biểu tình chống sưu thuế của nhân dân Quảng Nam và các tỉnh miền Trung, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, bắt giam các lãnh tụ Duy Tân, đày đi Lao Bảo, Côn Lôn, Trần Quí Cáp - nhà cách mạng giáo dục lỗi lạc của phong trào - bị tử hình. Các trường tân học bị đóng cửa, giáo viên bị đánh đập, giam cầm. Phong trào tan rã nhưng chữ Quốc ngữ đã gắn sâu vào lòng dân tộc, cùng nhân dân tiếp tục tiến bước trên đường thắng lợi cho đến khi nước nhà Độc lập đã trở thành thứ chữ chính thức của nước ta.

Từ khi chữ Quốc Ngữ chào đời cho đến khi được nhân dân đón nhận, Quảng Nam có vinh dự làm cái nôi khai sinh chữ Quốc ngữ cũng chính là nơi đầu tiên dấy lên phong trào học chữ Quốc ngữ mang tính đại chúng.

Châu Yến Loan           

Nguồn "thanhnien.com.vn", Thứ Tư, 13/07/2005 - 3:46 PM
1. Cistoforro Borri - Xứ Đàng Trong năm 1621, bản dịch Hồng Nhuệ & Nguyễn Nghị, TP Hồ Chí Minh, 1997
2. Đỗ Quang Chính - Lịch sử chữ Quốc Ngữ, Ra khơi, 1972
3. Gaspar Luis - Lettre du Père Gaspar Luis sur la Concincina, dẫn theo L.Cadière, Bulletin des Amis du Vieux Hue, 1931, 3-4
4. Roland jacques - L’oeuvre de quelques Pioniers Portugais dans le... domaine de la linguistique Vietnammienne jusqu’en 1650 INALCO, Paris 1995
5. Alexandre De Rhodes - Tự điển An Nam - Bồ Đồ Nha - La tinh, bản dịch Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang  Chính, Khoa học xã hội, 1991
 6.Alexandre De Rhodes - Hành trình và truyền giáo, Đại kết, UBĐKCG, TP Hồ Chí Minh, 1994
7. Châu Yến Loan - Hiếu Chiêu Hoàng Hậu, Đà Nẵng, 2002
8. Châu Yến Loan - Hội An-Đà Nẵng-Thanh Chiêm miền đất khai sinh chữ Quốc Ngữ, Xưa&Nay, số 94,06/2001, tr8-10
9. Châu Yến Loan - Phong trào Duy Tân với công cuộc phổ biến chữ Quốc ngữ, Văn hoá Quảng Nam, số 41,9-10/2003
10. Châu Yến Loan - Pina ở Thanh Chiêm, Vai trò lịch sử Dinh trấn Quảng Nam, Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam, kỷ yếu Hội thảo, 9/2002
11. Nguyễn Văn Xuân - Phong trào Duy Tân, Đà Nẵng, 1995 
12. Nguyễn Văn Xuân - Hội An, Đà Nẵng, 1999


ĐI TÌM DINH TRẤN THANH CHIÊM TRONG...TIỂU THUYẾT- Lê Trâm
 

Về dinh trấn Quảng Nam sách Phủ biên tạp lục chép :" Dinh Quảng Nam ở xã Cần Húc tục gọi Dinh Chiêm đi từ dinh sở qua đò đến con sông nhỏ Kẻ Thế và Bảo Nghĩa " ( 36 tr. 369-370). Lê Quý Đôn thêm rằng: " Đến như Dinh Chiêm ở Quảng Nam ở xã Cần Húc huyện Duy Xuyên sở thuộc có lỵ xá sai cây kẻ 3 người cai hợp 3 người thủ hợp 10 người lại viên 40 người giữ việc từ trung văn án do một viên ký lục đứng đầu lại có ty Tướng Thần Lại số người cũng thế giữ việc cấp lính các xã cấp các vi tử ( người tàn tật ) làm ngụ lộc thu phát tiền sai dư và thóc tô ruộng do một viên cai bạ đứng đầu " ( 31 tr. 145 ). Các sử liệu dù chưa chỉ rõ được mối quan hệ giữa Cần Húc với Thanh Chiêm nhưng đã nêu rõ rằng lỵ sở này được Nguyễn Hoàng giao cho hoàng tử thứ sáu và cũng là thế tử Nguyễn Phước Nguyên từ năm 1602. Từ đó các thế tử của chúa Nguyễn đều được cử về làm trấn thủ Quảng Nam " tập dượt " trước khi lên ngôi chúa. Trong " Hải ngoại ký sự" thiền sư Thích Đại Sán viết :" ... cách phía Tây (Hội An) chừng mười dặm có đặt một nha trấn thủ như vương phủ để phòng ngự lân bang " ( 15 tr. 154)

Như vậy lỵ sở Thanh Chiêm ra đời rất sớm đầu thế kỷ XVII và trở thành một nơi chốn sầm uất trên bến dưới thuyền đóng vai trò quan trọng suốt thời chúa Nguyễn Đàng Trong. Nơi đây cũng từng xảy ra nhiều trận giao tranh khốc liệt giữa các thế lực thời ấy: Nguyễn - Chăm Nguyễn - Trịnh Nguyễn- Tây Sơn. Nhiều biến động của các đời chúa Nguyễn mà điển hình là cuộc mưu phản thoán đoạt ngôi chúa của Dương Nghĩa Hầu Nguyễn Phước Anh cũng xảy ra ở đây khi ông làm trấn thủ Quảng Nam.

          Qua bao thế kỷ với nhiều biến động của thời cuộc dinh trấn Thanh Chiêm chỉ còn lại vết tích và trong ký ức dân gian. Theo Nguyễn Phước Tương trong " Vai trò dinh trấn Thanh Chiêm trong việc phát triển xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn "tất cả chỉ còn là dấu vết và trong lời kể dân gian: "Thành Vệ:...đã sụp đổ và bị san lấp thành ruộng vườn đất thổ cư ...những mô đất cao mương ao là những dấu tích xưa. Hành cungchỉ còn lại một khu đất rộng và cao...Vọng khuyết ...là một lầu vọng có đặt trống chiêng...nay cũng bình địa thành đất ở. Văn miếu...không còn dấu vết. Tịch Điền...chưa xác định được cụ thể. Mô Súng: nay trở thành khu ruộng có nền cao. Tàu Tượng : ...nay trở thành một bãi đất rộng mọc lên những nhà dân. Kho Muối...đã xây dựng nhà thờ tiền hiền Thanh Chiêm và trường Phổ thông cơ sở  Nguyễn Du ( trên nền đất của Mô Súng ). Nhà Lao nhà thờ Thiên Chúa giáo... cũng không còn dấu tích. Chùa Hội Phước... hiện nay vẫn còn tồn tại một ít dấu tích.

          Với tất cả những gì có được từ sử liệu dến di tích thật khó mà hình dung ra nổi một dinh trấn một thời nổi tiếng ( chỉ sau chính dinh ở Huế). Tôi cũng đôi ba lần lội quanh vùng đất được các nhà khoa học chỉ ra rằng thuộc Chiêm dinh xưa nhưng chỉ còn nhận ra mỗi một ngôi chùa những cuộc đất cao không bình thường các hào sâu kéo dài đầy chủ ý các bờ tre ken dày một nhà thờ Thiên Chúa giáo ( té ra mới được xây dựng sau này) một thế đất có thể xây dựng thành dinh lũy các bàu sen. Là hết. Hỏi thăm một vài bô lão về những ý kiến của ông già Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân ai cũng lắc đầu không biết. Thế nhưng sau này tôi tìm được một địa chỉ khác có thể gíup chúng ta phần nào hình dung ra dinh trấn Quảng Nam một thời vang bóng. Đó là ...tiểu thuyết Kỳ nữ họ Tống của Nguyễn Văn Xuân! Với tư liệu có trong tay và nhất là được sinh ra từ chính làng Thanh Chiêm cộng với trí tưởng tượng phong phú Nguyễn Văn Xuân phần nào giúp chúng ta tìm lại những nét xưa từng bị vùi trong lớp lớp bụi thời gian. Nguyễn Văn Xuân hình dung Thanh Chiêm như sau: "...Chiêm dinh ( tại làng Thanh Chiêm). Gọi là thành nhưng không có thành mà chỉ có bờ tre gốc trồng khít rịt nhau bốn mặt có chừa cổng rộng cho xe ngựa quan lính vào ra. Cả ba mặt đều có hồ rộng ngăn cách thành với đồng ruộng nhà dân. Riêng mặt Tây có Sài giang là sông Chợ Củi sâu rộng mặt nước xanh trong phẳng lờ trên đó đậu hàng trăm thuyền quân lớn nhỏ cờ hiệu khác nhau rực rỡ suốt mấy dặm. Quanh thành giữa bờ tre bố trí đại pháo. Mặt Đông Bắc có những mô súng với đại bác lớn để chống quân đổ bộ từ Cửa Hàn ( Đà Nẵng ) tiến qua Non Nước qua làng Cẩm Sa vào Chiêm dinh. Bề dài mặt Tây- Đông ước tám trăm bước mỗi phía. Các mặt kia chỉ rộng khoảng hai phần ba. Mỗi cửa có cổng ra vào bằng gỗ kiên cố riêng cửa tiền nhìn về Hội An chỉ mở vào những dịp chúa ở chính dinh ngự vào tại hành cung. Các cửa kia có lính gác....Về cuối thành mạn Tây Bắc có cái chợ lớn cùng tên với con sông. ..Chợ Củi (Sài thị ) còn là nơi bán rất nhiều củi cho ghe thuyền qua lại trên sông và cả thương thuyền lớn của ngoại quốc đình trú tại vùng Trà Nhiêu hay Hội An...Ghe thuyền mua bán tấp nập ở bến củi. Khách lạ dễ dàng tìm thấy tại đây các món hàng lạ quý trong nước hàng lạ nước ngoài ...thỉnh thoảng cũng thấy mấy người ngoại quốc đi lại nói xí lô xí là " (tr.29 30 ). Ta còn thấy ở đó những sinh hoạt khác của quan lại và cư dân . Đây là một ăn ở nhà quan: " Bữa ăn theo kiểu nhà quan là có cả trăm cái dĩa thanh thanh nhỏ đặt hàng dọc rồi có chồng những cái dĩa khác vì thiếu chỗ để ở các góc cạnh của các hàng dĩa kia " ( có thể nhận ra ở một số giỗ chạp ở ta vào những năm 50-60 thế kỷ trước-LT ). Đây là một người Nhật vệ sĩ của quan trấn thủ :" Người ấy lùn vai to bè bè bước đi chắc nịch mà nhẹ nhàng như bước đi của loài voi " ( tr.37 ). Hoặc nhà quan trấn thủ: "Nhà quan trấn thủ ở cũng là nhà các tiền nhân nên có cương vị một cái miếu. Nhà gồm năm gian hai chái tường làm bằng đá lấy ở núi Non Nước. Mái lợp tranh săng dày chống mưa bão rất tốt( giống hệt nhà rường Quảng Nam - LT). Nền không bằng đất bằng gạch mà bằng toàn ván gỗ cách mặt đất hơn một thước mộc đánh bóng sáng ngời. Kèo cột chạm trổ tinh vi đã lên nước đen bóng. Trong nhà ba gian giữa thờ các bậc tiền bối danh vọng khắp nước hai gian kế thờ những người ít quan trọng. Ở giữa nhà đặt hai bộ ván bằng gõ trước hai bàn thờ phụ dành cho các khách người trong tôn tộc Nguyễn Phước. Hai chái là phòng của vợ chồng quan trấn thủ. Chái dưới dành cho vợ và các con chái trên cho người chồng. Để vợ chồng đi lại với nhau và theo truyền thống đàn bà ít khi bước qua bàn thờ gia tiên - cử kinh nguyệt cho là dơ bẩn- người ta tạo sau dãy bàn thờ một hành lang dài thông suốt " (tr. 45 ). Đám tang của quan trấn thủ : " ... đám tang quan lớn có cả một rừng người. Đoàn voi ngựa dưới quyền điều động của phủ chúa mang bành trắng quân lính quan chức đều bịt khăn tang. ". Cuộc mưu phản của Nguyễn Phước Anh được Nguyễn Văn Xuân mô tả: " Chúa Thượng dùng một sức ép gấp mười lần để tận diệt và hứa hẹn tận diệt tất cả mầm mống phản đối tạo loạn. Giữa lúc các phe lâm chiến đang ra sức giết nhau ở các mặt trận thủy bộ thì cai đội Dương Sơn Nguyễn Phước Tuyên dùng đường tắt kéo kỳ binh đánh vào Chiêm dinh. Chiến tranh cách .... tầm tay gió mang hơi lửa tàn lửa dạo qua. ... Tất cả nhà cửa nội ngoại thành đều bằng tranh nên lửa tới đâu tạo ra tàn hại gây hãi hùng tới đó.... trấn thủ Nguyễn Phước Anh đã đào tẩu. Quyển sổ Đồng Tâm Hướng Thuận ghi tên những người trong đảng trấn thủ bị Nguyễn Phước Tuyên tịch thu rồi tin ấy truyền nhanh hơn tàn lửa chiến tranh. Chỉ nay mai lấy cớ lùng địch lũ quan quân đổ xô nạo vét khắp các làng xã. Bọn lâu la sẽ không chừa một cái gì không nạo vét " (tr.126)... Không ngờ cái ý định của Nguyễn Văn Xuân hơn mười lăm năm trước khi bày tỏ với những người viết văn trẻ chúng tôi rằng ông sẽ viết về Tống thị một người đàn bà có thật trong lịch sử một người đàn bà đẹp và liều lĩnh từng gây sóng gió cho cả nhiều triều Chúa Nguyễn và Trịnh- một sự thai nghén khá dài hơi- lại dành thêm cho chúng ta nhiều trang viết mà nhờ đó chúng ta có thể hình dung ra một Dinh Chiêm khá cụ thể. Những gì không thể trình bày một cách khoa học trong các hội thảo ông Xuân đã kịp để lại cho chúng bằng một phương tiện khác - văn học - và ông đã làm kịp thời . Nguyễn Văn Xuân đã làm việc gấp đôi tất cả chỉ vì vùng đất mà ông yêu mến - Thanh Chiêm.

Dinh trấn Quảng Nam được Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chính thức thành lập vào năm 1602 ở xã Cần Húc (Điện Bàn), ít lâu sau lại dời sang Thanh Chiêm (Điện Bàn), cuối cùng năm 1833, vua Minh Mạng cho dời lỵ sở Quảng Nam sang làng La Qua (Điện Bàn).

Theo các sử gia nhà Nguyễn trong Đại Nam nhất thống chí (bản in thời Tự Đức) thì Cần Húc nay là xã Văn Đông, huyện Diên Phước, tiếp giáp xã Thanh Chiêm.
Văn Đông (Cần Húc) là một xã cực Nam của phủ Điện Bàn, nằm ở tả ngạn sông Sài Thị (sông Chợ Củi), nép mình bên phải hương lộ liên xã chạy từ ngã ba chợ Tổng (Thanh Chiêm) về Phú Thiêm, Thanh Hà đi Hội An. Cần Húc là một xã vạn chài, có bến cá tấp nập ghe thuyền, đàn ông sống bằng nghề trồng trọt và chài lưới, đàn bà buôn cá về mùa nắng, chằm tơi lá về mùa mưa. Vì nó nằm về phía Đông của dinh trấn Thanh Chiêm nên gọi là xã Vạn Đông, về sau cải thành Văn Đông.
Cần Húc nằm gần sông, về mùa mưa lũ hay bị sụt lở, không được an toàn nên ít lâu sau dinh trấn Quảng Nam lại được dời về Thanh Chiêm (nay là thôn Thanh Chiêm, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Trường hợp này cũng tương tự như thành Điện Hải (Đà Nẵng), lúc đầu do Nguyễn Văn Thành xây năm 1813 thời Gia Long, vì nằm gần biển thường bị sụt lở nên đến thời Minh Mạng, nhà vua sai Trường Văn Minh xây thành mới lùi vào bên trong cách thành cũ khoảng vài trăm mét.
Dinh trấn Thanh Chiêm, lỵ sở mới của Quảng Nam dinh được xây dựng sau lỵ sở Cần Húc không rõ năm nào. Các thư tịch cổ của triều Nguyễn cũng không có nơi nào ghi lại rõ ràng niên đại ra đời của dinh trấn Thanh Chiêm trên đất Điện Bàn. Nhưng địa danh Thanh Chiêm, Kẻ Chiêm, Kẻ Chàm theo cách gọi của các tài liệu sử Việt Nam, Chiêm Thượng theo cách gọi của người Trung Hoa, Caccoiam, Dinh Ciam, Ca Chão theo cách gọi của các Giáo sỉ Tây phương đến truyền giáo ở Đàng Trong đã được nêu lên trong các sách của nước ta và nước ngoài vào đầu thế kỷ XVII:

Dinh trấn Thanh Chiêm là nơi đào tạo các chúa ở Đàng Trong
Dinh trấn Thanh Chiêm, có thể xem là kinh đô thứ hai của chúa Nguyễn sau chánh dinh ở Thuận Hóa, tại đây, quan trấn thủ Quảng Nam dinh sống và làm việc, được toàn quyền quyết định mọi vấn đề thuộc lãnh địa của mình. Đây cũng chính là nơi các thế tử thực tập làm chính sự để nối ngôi chúa mai sau. Thời kỳ đầu, từ khi Dinh trấn mới được thành lập năm 1602 cho đến năm 1648, các quan trấn thủ hầu hết là những Hoàng tử của các chúa Nguyễn, ngoại trừ Bùi Hùng Lương được cử làm Chưởng dinh trấn thủ Quảng Nam năm 1635.
Quan trấn thủ đầu tiên của Quảng Nam là Thế tử Thái Bảo Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên, Hoàng tử thứ sáu của chúa tiên Nguyễn Hoàng. Bằng tài năng xuất chúng của mình, ông đã không phụ lòng tin của chúa. Nhờ những đóng góp của quan Trấn thủ mà dưới thời Nguyễn Hoàng tình hình kinh tế, xã hội ở xứ Đàng Trong được ổn định, đời sống của nhân dân yên ổn.
Sau khi Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi chúa, con cả của ông là Thế tử Chưởng cơ Hữu phủ Chưởng phủ sự Nguyễn Phúc Kỳ được giữ chức trấn thủ Quảng Nam từ năm 1613. Ông đã sống và làm việc ở dinh trấn Thanh Chiêm cho đến lúc qua đời. Mặc dù ông quản lãnh Quảng Nam dinh chỉ có mười mấy năm (vì mất sớm), nhưng nhờ lòng nhân đức và sự tận tụy của mình, ông đã đem lại cho xứ sở này một nền chính trị ổn định, kinh tế ngoại thương phát triển.
Sau khi Khánh Quận công Nguyễn Phúc Kỳ qua đời đột ngột, năm 1632, chúa Sãi phong hoàng tử thứ hai là Phó tướng Nhân Lộc Hầu Nguyễn Phúc Lan làm Thế tử và cử Hoàng tử thứ ba là Dương Nghĩa Hầu Nguyễn Phúc Anh là Phó tướng trấn thủ Quảng Nam dinh.
Năm 1635, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên mất, Thế tử Nguyễn Phúc Lan được lập làm chúa Thượng, Nguyễn Phúc Anh làm phản, bị tử hình. Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan phong cho Bùi Hùng Lương chức Chưởng cơ, trấn thủ Quảng Namdinh.
Đến thời kỳ Thế tử Thái phó Dũng Lễ Hầu Nguyễn Phúc Tần làm trấn thủ (khoảng 1638-1648), Quảng Nam dinh phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt, nổi bật nhất là quân sự với những chiến công lẫy lừng còn ghi trong sử sách.
Có thể nói, trong buổi đầu dựng nghiệp của nhà Nguyễn, dinh trấn Thanh Chiêm là cơ sở đào luyện các quốc vương của Đàng Trong. Các Thế tử qua nhiều năm cai quản dinh Quảng Nam đã rút được những kinh nghiệm quý giá trong việc điều hành chính sự nên khi lên ngôi chúa rất vững vàng, bản lĩnh và đầy năng lực.

Dinh trấn Thanh Chiêm là hậu phương vững chắc của Chính dinh trong sự nghiệp bảo vệ lãnh thổ và mở đất phương Nam
Nhờ đất đai màu mỡ Quảng Nam dinh là vùng sản xuất nhiều lương thực ở Đàng Trong so với dinh Quảng Bình và Chính dinh, hải sản phong phú, nhiều mỏ kim loại quý nhất là mỏ vàng.
Về kinh tế, ngoại thương, dinh Chiêm chính là cơ quan đầu não, trực tiếp giao thiệp với người nước ngoài, kiểm soát xuất nhập khẩu và ngoại thương. Các tàu buôn, thương gia, du khách hay giáo sĩ ngoại quốc vào xứ Nam đều do hai cửa Đà Nẵng, Hội An phải trình báo về dinh Chiêm và đợi lệnh của quan Trấn thủ. Từ khi dinh trấn Quảng Nam được thành lập, việc giao thương với nước ngoài phát triển mạnh mẽ. Hội An là một thương cảng tấp nập, phồn vinh, thuyền bè các nước Tây phương, Trung Hoa, Ma-cao, Nhật Bản, Manila, Malacca… thường xuyên đến buôn bán.
Khi làm trấn thủ Quảng Nam dinh, thế tử Nguyễn Phúc Nguyên đã tổ chức Hội chợ quốc tế hàng năm ở cảng thị Hội An, nhờ thế đã thu được lợi nhuận lớn từ thuế hàng hóa và thuế hải khẩu. Ông còn cho người Nhật, người Hoa lập phố Nhật và phố Khách tại đây để buôn bán và cấp đất cho người Bồ Đào Nha mở thương điếm tại cảng Đà Nẵng. Với một chính sách thông thoáng, mở cửa giao thương với nước ngoài và các quan trấn thủ Quảng Nam dinh và các chúa Nguyễn đã tạo điều kiện cho Quảng Nam phát triển thành vùng đất giàu có vào bậc nhất của xứ Đàng Trong, đóng góp rất lớn vào ngân sách của Chính dinh và nâng cao đời sống của nhân dân.
Về quân sự, Dinh trấn Thanh Chiêm là một căn cứ thủy lục quân hùng mạnh nhất của xứ Đàng Trong, có các binh chủng: Bộ binh, Tượng binh, Kỵ binh và Thủy binh.
Bộ binh của chúa Nguyễn được trang bị vũ khí mua của các nước Nhật Bản, Bồ Đào Nha như mã tấu, trường đao, áo giáp, bảo kiếm, đại bác và thuốc súng.
Luật tuyển quân của chúa Nguyễn rất nghiêm ngặt, người lính phải thường xuyên luyện tập theo một kỷ luật sắt.
Tượng đội dưới quyền quản lý của quan trấn thủ gồm hàng trăm voi chiến, đó là loại binh chủng vô cùng lợi hại. Thời bấy giờ, rừng núi Đàng Trong có rất nhiều voi, nhất là ở Quảng Nam. Tượng đội của dinh trấn Thanh Chiêm gồm 3 cơ: Hữu cơ, Tả cơ, Trung cơ là binh chủng nổi tiếng của xứ Đàng Trong.
Đàng Trong cũng thành lập nhiều đơn vị Kỵ binh vì có rất nhiều ngựa. Khi tác chiến, không chỉ Tượng đội đã làm cho đối phương khiếp sợ mà các đoàn Kỵ binh với những ngọn lao vun vút phóng ra còn khiến họ hãi hùng hơn nữa. Dưới thời chúa Nguyễn, Thanh Chiêm là một căn cứ thủy quân hùng mạnh nhất trong số ba căn cứ thủy quân ở Đàng Trong là Chính dinh, Quảng Nam dinh và Trấn Biên dinh.
Nhờ có quân lực hùng mạnh, dinh trấn Thanh Chiêm đã giữ một vị trí vô cùng quan trọng: vừa là hậu phương vững chắc của Chính dinh để đối đầu với quân Trịnh và các lực lượng ngoại bang bảo vệ lãnh thổ, vừa là bàn đạp để vươn tới phương Nam.
Quảng Nam dinh đã yểm trợ đắc lực cho kinh đô và tiếp cứu cho Quảng Bình để chận đứng các cuộc tiến công của quân Trịnh. Trong những lần chúa Trịnh đem quân xâm lấn Đàng Trong, quân đội của Quảng Nam dinh đều tham gia để chống trả. Nổi bật nhất là trận đánh năm Mậu Tý 1648 do Thế tử Nguyễn Phúc Tần lúc ấy đang làm trấn thủ Quảng Nam dinh chỉ huy. Nhờ sự phối hợp tác chiến của các binh chủng, đặc biệt là Tượng đội, Đàng Trong đã đánh thắng quân Trịnh, bắt sống các tướng và 3 vạn tàn quân. Số tàn binh bắt được bị giải vào Nam, chia ra từng nhóm 50 người làm một ấp, cấp lương thực, trâu bò để họ khai khẩn ruộng hoang tính kế lâu dài. Từ đó, từ Điện Bàn, Thăng Bình đến Phú Yên làng mạc liền nhau, dân cư không còn thưa thớt như trước.
Với đạo thủy quân đóng trên sông Chợ Củi của Dinh Chiêm, năm 1644 Thế tử Dũng Lễ Hầu Nguyễn Phúc Tần đã anh dũng đánh tan quân Hà Lan, một đội quân vô địch trên mặt biển Đông. Thuyền trưởng Hà Lan Peter Back buộc phải cho nổ kho thuốc súng trên tàu, tàu cháy, hàng năm thủy thủ phải  bỏ mạng. Nguyễn Phúc Tần là người đầu tiên đã ghi vào lịch sử chiến công oanh liệt đánh thắng quân Tây.
Dưới thời các chúa Nguyễn, lãnh thổ của nước ta không ngừng được mở rộng về phương Nam, trong các đợt mang gươm đi mở cõi, dinh trấn Thanh Chiêm giữ một vai trò vô cùng quan trọng, từ nhân lực đến vật lực phần lớn đều do dinh Chiêm cung ứng.
Cuộc Nam tiến khởi đầu từ thời chúa tiên Nguyễn Hoàng. Năm 1611, Chiêm Thành xâm lấn biên giới, chúa sai chủ sự Văn Phong đem quân đi đánh, lấy được đất mới, lập ra phủ Phú Yên.
Đến đời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, năm Quý Tỵ (1653), vua nước Chiêm Thành là Bà Tấm xâm lấn Phú Yên, chúa sai cai cơ Hùng Lộc làm Thống binh, Xá sai Minh Vũ làm Tham mưu đem 3.000 quân đi đánh. Quân ta vượt đèo Hổ Dương núi Thạch Bi đánh thẳng vào thành. Bà Tấm trốn chạy, ta lấy đất đến sông Phan Rang, lập dinh Thái Khang (nay là Khánh Hòa) giao cho Hùng Lộc trấn giữ. Chiêm Thành phải giữ lệ triều cống như trước.
Năm 1658, vua nước Chân Lạp là Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy, chúa Hiền sai Phó tướng Trấn biên là Tôn Thất Yến, Cai đội là Xuân Thắng, Tham mưu là Minh Lộc đem 3.000 quân đến thành Hưng Phúc (bấy giờ gọi là Mỗi Xuy, nay thuộc tỉnh Biên Hòa) bắt Nặc Ông Chân đưa về. Sau chúa tha tội cho Nặc Ông Chân về nước làm vua, hàng năm phải nộp cống.
Tháng 8-1692, vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh làm phản,  cướp giết cư dân ở phủ Diên Ninh, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Cai cơ Nguyễn Hữu Kính làm Thống binh, văn chức Nguyễn Đình Quang làm Tham mưu suất lãnh quân Chính dinh, cùng quân Quảng Nam và Bình Khang đi đánh. Năm 1693 Nguyễn Hữu Kính đánh bại Chiêm Thành, Bà Tranh bỏ chạy rồi bị bắt, chúa sai đổi nước ấy làm trấn Thuận Thành, sau đó đổi trấn Thuận Thành làm phủ Bình Thuận, toàn bộ phần đất còn lại của Chiêm Thành đã thuộc về chúa Nguyễn. Tháng 10-1714, Nặc Thâm nước Chân Lạp cùng bầy tôi là Cao La Hâm dấy binh vây Nặc Yêm phải cầu viện với hai dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, chúa Nguyễn Phúc Chu giao cho Đô đốc Phiên Trấn là Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trấn Biên là Nguyễn Cửu Phú định đoạt. Chúa sai Cai cơ Tả bộ dinh Bình Khang là Nguyễn Cửu Triêm lãnh 26 thuyền của quân thủy bộ của dinh Bình Khang để ứng tiếp, lấy 4 thuyền cơ Tả thủy dinh Quảng Nam để tiếp giữ dinh Bình Khang.
Năm 1757, Nặc Nguyên nước Chân Lạp chết, Nặc Nhuận phải hiến cho chúa Nguyễn Phúc Khoát hai phủ Trà Vinh, Ba Thắc để được công nhận lên ngôi. Nặc Nhuận bị con rể là Nặc Hinh giết để cướp ngôi, sau đó Nặc Hinh bị giết, chúa sắc phong cho Nặc Tôn, con của Nặc Nhuận làm vua nước Chân Lạp, Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long cho chúa. Nặc Tôn lại cắt 5 phủ Hương Úc, Cần Vọt, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn Mạc Thiên Tứ, Thiên Tứ hiến cho triều đình, chúa cho lệ 5 phủ ấy vào quản hạt Hà Tiên, phần đất cuối cùng của Thủy Chân Lạp thuộc về xứ Đàng Trong. Các chúa Nguyễn đã hoàn tất kế hoạch mở rộng bờ cõi.
Để xây dựng kinh tế, xã hội, văn hóa ở những vùng đất mới này, các chúa Nguyễn đã vận dụng những kinh nghiệm tích lũy được từ Quảng Nam. Chúa cho phép “bọn người Thuận Quảng có vật lực” (những đại địa chủ ở Thuận Quảng) được tự do chiêu mộ dân đi khai khẩn. Họ được hưởng những ưu đãi đặc biệt như: hầu hết ruộng đất khai phá được đều trở thành ruộng tư của họ, được mua nhân công, lập ra thôn ấp thì được giữ chức sắc cao nhất của thôn ấp đó, được ưu đãi về thuế.
Quảng Nam dinh không chỉ đã cung ứng cho các chúa Nguyễn những đội quân tinh nhuệ để mở đất phương Nam mà còn cung ứng cho miền Nam những địa chủ giàu kinh nghiệm và những người lãnh đạo công cuộc khẩn hoang tài ba như Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại để xây dựng thành công vùng đất giàu có vào bậc nhất của tổ quốc.
Tháng 1-2008, Dinh trấn Thanh Chiêm đã được UBND tỉnh Quảng Nam công nhận Di tích lịch sử. Thanh Chiêm không chỉ là di tích của Quảng Nam mà còn là di sàn chung của Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định khi còn là một dải đất liền trong Quảng Nam Dinh từ Hải Vân đến chân núi Thạch Bi. Mong rằng một ngày gần đây dinh trấn Thanh Chiêm sớm được khôi phục để giới thiệu với bạn bè quốc tế một địa chỉ đã từng là thủ phủ của một vùng đất giàu có vang bóng một thời.
Theo Châu Yến Loan - Nguyễn Thiếu Dũng
(Tạp chí “XƯA VÀ NAY”, cơ quan của
Hội khoa học lịch sử Việt Nam, số 318 tháng 10/2008)  https://xuanay.vn
 Xem thêm  https://vi.wikipedia.org/wiki/Quảng_Nam

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây